
Xe tải và tàu biển có điểm chung là máy diesel chạy tải nặng trong nhiều giờ liên tục. Nhưng cách quyết định thời điểm thay dầu ở hai loại phương tiện này khá khác nhau. Với xe tải, câu hỏi thường là "bao nhiêu km". Với tàu, câu hỏi là "dầu còn đủ kiềm và còn sạch không". Bài này đi qua từng trường hợp, bắt đầu từ việc thay dầu nhớt xe tải.
Xe tải: theo km, giờ máy và điều kiện chạy
Sổ tay của nhà sản xuất là căn cứ đầu tiên. Họ thường đưa ra hai mốc: chạy đường dài thông thường và chạy điều kiện khắc nghiệt. Xe được xếp vào nhóm khắc nghiệt khi:
- Chạy nội thành, dừng đỗ nhiều, nổ máy chờ hàng lâu.
- Chở quá tải hoặc kéo rơ moóc nặng, leo đèo dốc thường xuyên.
- Chạy công trường, mỏ đá, đường nhiều bụi.
- Dùng nhiên liệu chất lượng không ổn định.
Với xe ben, xe trộn bê tông hay xe chạy nhiều giờ ở tốc độ thấp, đồng hồ km không phản ánh đúng công việc máy đã làm. Nên tính theo giờ máy, hoặc theo lượng nhiên liệu đã tiêu thụ nếu hãng có hướng dẫn.
Dấu hiệu cần thay sớm hơn lịch
- Dầu đặc quánh, đen như hắc ín, có cặn sạn khi miết tay.
- Áp suất dầu thấp hơn bình thường khi máy nóng.
- Dầu có mùi nhiên liệu, hoặc mức dầu tăng bất thường.
- Dầu chuyển màu nâu sữa: nghi lọt nước làm mát.
Lưu ý khi chọn dầu
Xe tải đời mới đạt chuẩn khí thải cao, có lọc hạt và bộ xúc tác SCR, cần dầu API CK-4 hoặc tiêu chuẩn tương đương của hãng. Xe đời cũ dùng CI-4 hoặc CH-4 vẫn được. Độ nhớt phổ biến là 15W-40, một số xe mới dùng 10W-30 để tiết kiệm nhiên liệu. Hộp số, cầu xe dùng dầu bánh răng riêng (thường 80W-90, 85W-140 theo cấp API GL-5), thay theo lịch riêng.
Tàu biển: theo chất lượng dầu và nhiên liệu
Máy bốn kỳ (trunk piston)
Phần lớn máy chính tàu nhỏ và trung bình, máy đèn trên tàu lớn là loại bốn kỳ. Dầu bôi trơn piston, xi lanh và toàn bộ máy dùng chung từ các te. Dầu này phải trung hòa axit sinh ra từ lưu huỳnh trong nhiên liệu, nên chỉ số kiềm tổng (BN) rất quan trọng:
- Dùng nhiên liệu ít lưu huỳnh (như dầu DO hoặc nhiên liệu theo giới hạn 0,5% lưu huỳnh của IMO từ năm 2020) thì cần dầu BN thấp hơn.
- Dùng dầu nặng HFO nhiều lưu huỳnh thì cần dầu BN cao hơn, thường từ 30 đến 40 trở lên.
Chọn BN quá cao so với nhiên liệu có thể tạo cặn tro trên đỉnh piston. Chọn quá thấp thì xi lanh, xéc măng bị ăn mòn axit.
Máy hai kỳ con trượt (crosshead)
Máy chính tàu lớn dùng hai loại dầu: dầu xi lanh được phun vào và đốt cháy dần (không thay mà châm liên tục), và dầu hệ thống bôi trơn ổ trục, con trượt, ít khi phải thay toàn bộ nếu được lọc và ly tâm tốt.
Khi nào thay hoặc làm mới dầu máy tàu
| Chỉ tiêu | Cần hành động khi |
|---|---|
| BN | Giảm còn khoảng một nửa so với dầu mới, hoặc theo ngưỡng của nhà sản xuất máy |
| Hàm lượng nước | Vượt khoảng 0,2 đến 0,3%, cần kiểm tra máy ly tâm và két làm mát |
| Độ nhớt | Thay đổi quá khoảng 20 đến 25% so với dầu mới |
| Chất không tan, muội | Tăng liên tục dù máy lọc, máy ly tâm hoạt động tốt |
Các ngưỡng trên là mức tham khảo phổ biến. Ngưỡng chính xác cần theo khuyến cáo của nhà sản xuất máy và nhà cung cấp dầu. Nhiều trường hợp chỉ cần xả một phần và bổ sung dầu mới để phục hồi BN, không phải thay toàn bộ.
Điểm chung: hãy phân tích dầu
Dù là đội xe hay đội tàu, chương trình lấy mẫu dầu định kỳ là cách đáng tin nhất để quyết định thời điểm thay dầu nhớt xe tải hay làm mới dầu máy tàu. Nó giúp tránh thay quá sớm gây lãng phí, và phát hiện sớm nước, nhiên liệu, bụi lọt vào trước khi gây hỏng hóc. Kinglube cung cấp dầu động cơ diesel, dầu hộp số cho xe tải và tàu thuyền tại mục Dầu nhớt xe tải, tàu biển.
Ảnh: Rémi Kaupp / Wikimedia Commons, giấy phép CC BY-SA 3.0.
